Bài 25: Kiều ở lầu Ngưng Bích

(Trích Truyện Kiều)

I. Kiến thức cần nhớ

Đoạn trích nằm trong phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc của Truyện Kiều. Sau khi biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn. Tú Bà vờ hứa hẹn đọi Kiều bình phục sẽ gả nàng vào nơi tử tế, rồi đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới.

– Sau câu thơ đầu miêu tả cảnh trước lầu Ngưng Bích qua cảm nhận của Thúy Kiều, gợi nên nỗi niềm nhớ nhà, sự cô đơn, lạc lõng của nàng.

– Tám câu thơ tiếp theo là tâm trạng nhớ thương của Kiều ở nhiều sắc độ: nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ. Các câu thơ khắc họa sâu sắc nội tâm của Thúy Kiều, làm nổi bật sự thủy chung son sắt và lòng hiếu thảo, vị tha của nàng mà quên đi bản thân mình.

– Tám câu thơ cuối là những dự cảm của Thúy Kiều về tương lai. Cảnh vật được nhìn qua tâm trạng của Kiều tạo thành một bức tâm cảnh. Mỗi cảnh vật là một bức tranh về tương lai khác nhau. Điệp ngữ Buồn trông được lặp lại bốn lần tương ứng với bốn khung cảnh vừa là dự cảm, vừa nhấn mạnh nỗi ám ảnh trong tâm trạng của nàng.

– Đoạn trích tiêu biểu cho nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du. Mỗi khung cảnh, đường nét đều ẩn chứa một tâm trạng, dự cảm về tương lai. Thiên nhiên được miêu tả từ xa đến gần, từ nhạt đến đậm, từ tĩnh đến động. Qua bức tranh thiên nhiên, tác giả thể hiện bức tranh tâm trạng của nhân vật với nhiều cung bậc khác nhau.

READ  Võ Luyện Đỉnh Phong: Hành trình tu luyện của Dương Khai

II. Soạn bài

Bài 1.

– Không gian trước lầu Ngưng Bích:

+ Không gian rộng lớn, mênh mông, bát ngát với “non xa”, “trăng gần” gợi sự chơ vơ, chênh vênh, trơ trọi của lầu Ngưng Bích.

+ Không gian trống trải, hoang vắng, không có dấu hiệu của sự sống với sự ngổn ngang của “Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia”.

– Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn, khép kín.

– Cảnh thoáng đãng nhưng lầu Ngưng Bích dường như trơ trọi đã góp phần khắc họa nỗi cô đơn, lẻ loi đến cùng cực của Thúy Kiều. Cả không gian và thời gian như giam hãm con người. Một chữ “bẽ bàng” đã lột tả sâu sắc tâm trạng của Kiều: vừa chán ngán, buồn tủi cho thân phận mình; vừa xấu hổ, sượng sùng trước mây sớm, đèn khuya.

Bài 2.

a. Trong cảnh ngộ của mình, Kiều đã nhớ tới Kim Trọng và cha mẹ. Nàng nhớ Kim Trọng trước, cha mẹ sau. Đây là một trình tự hợp lí bởi lẽ: Khi quyết định bán mình chuộc cha, Thúy Kiều đã tạm làm tròn chữ hiếu nhưng đồng thời, nàng cũng buộc phải phụ tình chàng Kim. Bởi lẽ đó, Kiều luôn cảm thấy mặc cảm có lỗi với chàng Kim.

b. Khi Kiều nhớ Kim Trọng, Nguyễn Du đã sử dụng từ “tưởng” để gợi lên những kỉ niệm đẹp đẽ, vẫn còn tươi nguyên, sống động giữa Thúy Kiều và Kim Trọng dưới trăng đêm nào. Kiều tưởng tượng ra cảnh Kim Trọng vẫn ngày đêm trông ngóng nàng mà vẫn chưa hề hay biết cảnh ngộ hiện tại của nàng.

READ  Dự báo thời tiết Hà Nội đợt nghỉ Tết Dương lịch 2024

Khi Kiều nhớ tới cha mẹ, Nguyễn Du lại sử dụng từ “xót” để diễn tả nỗi xót xa, lo lắng cho cha mẹ của Kiều mỗi lúc nghĩ đến cảnh tượng cha mẹ ngày đêm tựa cửa trông ngóng nàng trở về.

c. Hoàn cảnh của Kiều thật đáng buồn, bất hạnh nhưng trái tim của Kiều đầy yêu thương, nhân hậu, vị tha. Nàng thực sự là một người tình thủy chung, một người con hiếu thảo.

Bài 3.

a. Cảnh vật ở đây là “thực” (cảnh cửa biển chiều hôm nơi Kiều đang ngồi ở lầu Ngưng Bích nhìn ra) nhưng được “khúc xạ” qua tâm trạng của Kiều nên có phần hư ảo.

– Mỗi cảnh vật góp phần làm nổi bật tâm trạng của Thúy Kiều song lại có những nét riêng: những cánh buồm thấp thoáng xa xa nơi cửa bể chiều hôm gợi lên nỗi nhớ nhà da diết; những cánh hoa trôi man mác trên dòng nước gợi nhắc đến thân phận lạc loài của nàng; rồi màu xanh xanh bất tận của nội cỏ rầu rầu gợi tương lai mù mịt, u ám; để rồi cuối cùng, nỗi buồn dội lên thành một nỗi kinh hoàng “Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”. Tiếng sóng như một lời dự báo về kiếp người lưu lạc của Kiều.

b. Điệp ngữ “buồn trông” tạo âm điệu trầm buồn, góp phần diễn tả nỗi buồn triền miên, dai dẳng trong tâm hồn Kiều.

READ  The Ultimate Fake Book – 5th Edition C Edition Fake Book